Sở tú tài dạo này bị làm sao vậy?
Gần đây, trong những cuộc trò chuyện phiếm của dân làng mà nếu không nhắc tới y thì coi như đã lỗi thời. Nhưng chuyện này thật sự không thể trách mọi người hiếu kỳ, có trách thì trách hành vi của Sở tú tài quá đỗi khó hiểu.
Y đã nán lại ở sau núi để ngắm tre suốt mấy ngày liền! Mỗi ngày trời vừa hửng sáng y đã đi, tới tận buổi trưa mới về ăn cơm rồi sau đó lại vội vàng trở lại rừng, mãi cho tới giờ cơm tối mới chịu nghỉ tay.
Y còn mang theo một chiếc bồ đoàn lớn, đặt ngay ngắn giữa rừng tre rồi cứ vậy khoanh chân ngồi thiền, đôi mắt nhìn chằm chằm vào những thân tre không chớp.
Dân làng thấy lạ bèn rủ nhau lên núi xem cho biết, mấy ngày nay người ra người vào nườm nượp. Có người vì quá tò mò còn ngồi lại bầu bạn với y hơn một canh giờ. Kết quả, đạo lý cao siêu thì chẳng thấy đâu, ngược lại họ chỉ bị những búp măng xuân vừa nhú lên khỏi mặt đất nơi sườn núi thu hút ánh nhìn. Vậy là họ lật đật chạy về nhà vác cuốc lên đào đầy một sọt lớn, trước khi đi còn có lòng gửi lại hai củ măng cho Sở Từ.
Sở Từ chẳng nói chẳng rằng mà lặng lẽ kéo hai củ măng về phía mình, định bụng lát nữa sẽ mang về làm bữa tối.
Mấy ngày qua, y học theo triết gia Vương Dương Minh* ngày trước, ngồi "Cách Vật" trước cây tre. Tuy chưa tự sáng tạo ra một môn học thuyết nào cho riêng mình nhưng thu hoạch có được lại chẳng hề nhỏ.
(*Vương Dương Minh (1472 – 1529): là nhà triết học, nhà tư tưởng lừng lẫy thời nhà Minh, người sáng lập ra "Dương Minh tâm học".)
Năm xưa, Vương Dương Minh vì sùng bái câu nói "Cách Vật Trí Tri" trong Chu Tử lý học mà đã ngồi nhìn cây tre ở sau vườn nhà suốt bảy ngày bảy đêm để tìm kiếm đạo lý ẩn chứa bên trong và kết quả là đổ bệnh một trận thừa sống thiếu chết. Sau khi khỏi bệnh thì ông mới ngộ ra một điều: Vạn vật trên thế gian này quá nhiều, nếu cứ muốn đi truy tìm ngọn nguồn đạo lý của từng thứ một thì cả đời này cũng không thể làm xuể. Thay vì tìm kiếm từ thế giới bên ngoài, chi bằng hãy xuất phát từ chính nội tâm của mình và lắng nghe tiếng lòng rồi cứ vậy mà làm theo.
Thời gian đầu mới ngồi trong rừng tre, tâm trí Sở Từ vẫn ngập tràn sự nôn nóng và bất an. Y thầm nghĩ chỉ còn năm tháng nữa là tới kỳ thi Hương, tại sao mình lại lãng phí khoảng thời gian quý báu này để ngồi đây? Đã vài lần y định đứng dậy trở về đọc sách nhưng rồi lại ép bản thân phải tiếp tục ngồi xuống. Bởi y hiểu rằng,m nếu có quay về trong trạng thái này thì cũng chẳng chữ nghĩa nào vào đầu, ngược lại chỉ càng khiến bản thân thêm lo âu mà thôi.
Dần dần thì y bắt đầu tập trung nhìn ngắm những cây tre, quan sát từng chiếc lá, từng búp măng xanh đậm vừa nhú trên sườn núi, cho tới cả những chiếc lá úa vàng khô khốc tích tụ nơi góc rừng. Một luồng gió nhẹ thoảng qua, mang theo hơi thở trong lành đặc trưng của chốn núi rừng. Luồng khí ấy như gột rửa cả tâm hồn lẫn thể xác y, thổi bay mọi tạp niệm dồn nén bấy lâu và chỉ để lại một chữ "Tĩnh" vẹn nguyên.
Y bắt đầu ngẫm nghĩ một cách tinh tế về cuộc sống trước kia của mình. Nhịp sống hối hả và sự xô bồ, phù phiếm ở thời hiện đại vốn đã tước đi khả năng tận hưởng cuộc sống của con người. Sau khi xuyên không về thời cổ đại, thực chất một phần tâm thức của y vẫn thuộc về thế giới cũ. Trong việc học hành khoa cử, y chưa thể đạt tới cảnh giới hoàn toàn không màng vật chất, lúc nào cũng đau đáu suy tính làm sao để tận dụng tối đa mọi nguồn lực xung quanh.
Có lẽ đã tới lúc y cần phải sống chậm lại, học cách đọc sách mà không đặt nặng mưu cầu danh lợi, học cách thấu hiểu đạo lý thực sự từ thánh hiền thay vì cố công luồn cúi những đường đi nước bước khác.
Khi đã nghĩ thông suốt, Sở Từ cũng chịu xuống núi. Y vô cùng mãn nguyện với sự bình yên cảm nhận được trong lòng mấy ngày qua, thậm chí còn có ảo giác bản thân sắp sửa "đắc đạo thành tiên".
Ấy là nếu có thể phớt lờ chiếc bồ đoàn bên tay trái và hai củ măng y đang xách bên tay phải.
"Hóa ra Sở tú tài ngồi đó là để canh măng à!"
Thấy dân làng khấp khởi khuyên bảo nhau như vậy, ai nấy đều bật cười đầy thiện ý. Vậy là những ngày sau đó, thay vì lên núi nhìn y xem tre, người ta lại nườm nượp mang măng tới biếu nhà y.
Nghĩ tới cảnh tượng mảnh rừng tre u tịch ngày nào giờ đây bị đào bới nham nhở đầy vết thương, Sở Từ không khỏi chột dạ. Ngày trước Vương Dương Minh nhìn tre tới mức hại bản thân sinh bệnh, còn y thì hay rồi, nhìn tre một hồi lại làm hại cả cánh rừng, thật là "tội lỗi" quá đi thôi.
Nếu dân làng biết được suy nghĩ trong lòng y, nhất định sẽ cười lớn mà nói rằng: Chẳng lẽ ngài nghĩ chúng ta sẽ dễ dàng bỏ qua món quà quý giá này của thiên nhiên hả? Nhất là những củ măng xuân tươi ngon mơn mởn này.
......
Bước vào kỳ thi Hương, đề bài không còn yêu cầu thí sinh phải thông suốt toàn diện mọi lĩnh vực như trước nữa. Giống như việc phân chia các khối học ở bậc học cao, khi thi Hương, thí sinh phải chọn ra một bộ trong Ngũ Kinh để làm môn sở trường và sau đó dốc hết tâm sức để nghiên cứu chuyên sâu bộ kinh đó.
Năm người đứng đầu kỳ thi Hương sẽ được tôn vinh là Ngũ Kinh Khôi, tượng trưng cho người xuất sắc nhất trong mỗi bộ kinh. Sau đó, khảo quan mới dựa trên bài thi Tứ Thư của năm vị này để chọn ra người tài giỏi nhất trao danh hiệu Giải Nguyên.
Ngũ Kinh* vốn bao gồm năm bộ sách lớn là Thơ, Thư, Lễ, Dịch và Xuân Thu. Tuy nhiên, vì lời văn trong kinh Xuân Thu quá mức súc tích và giản lược nên các sĩ tử thời bấy giờ khi học bộ kinh này chủ yếu đều đọc bản khắc hợp nhất của ba cuốn truyện giải thích gồm Tả thị truyện, Công Dương truyện và Cốc Lương truyện.**
(* Ngũ Kinh: là năm bộ sách kinh điển của Nho giáo do Khổng Tử san định, bao gồm:
Kinh Thi (thơ ca dân gian và cung đình)
Kinh Thư (văn kiện, lịch sử triều đại cổ)
Kinh Lễ (nghi lễ, phép tắc cư xử)
Kinh Dịch (triết học về sự biến dịch, bói toán)
Kinh Xuân Thu (thời biểu lịch sử nước Lỗ).
Thời xưa, sĩ tử đi thi phải chọn một trong năm bộ này làm môn sở trường (gọi là trị bổn kinh) để nghiên cứu chuyên sâu.)
(** Tả thị truyện (do Tả Khâu Minh viết): Tập trung bổ sung nhiều tư liệu, diễn biến lịch sử chi tiết.
Công Dương truyện (do Công Dương Cao viết): Tập trung luận giải về đại nghĩa, tư tưởng chính trị.
Cốc Lương truyện (do Cốc Lương Xích viết): Tập trung giảng giải về mặt đạo đức, lễ nghi.)
Nguyên chủ trước đây chọn Kinh Thi làm môn sở trường để nghiên cứu sâu. Khổng Tử từng luận rằng: "Kẻ làm người ôn nhu đôn hậu, ấy là nhờ cái giáo hóa của Thơ vậy." Ý nói khi tới một quốc gia, nhìn vào phong tục là biết được việc giáo hóa ở nơi đó ra sao. Nếu người dân ôn hòa hiền thục, sống trung hậu nghĩa tình thì đó chính là thành quả từ sự giáo hóa của Kinh Thi. Sau cùng, chính Khổng Tử cũng dùng ba chữ "Tư Vô Tà" để đánh giá bộ kinh này, tóm lại một câu là tư tưởng ngay thẳng mà không chút tà niệm.
Bản tính của nguyên chủ vốn thừa hưởng trọn vẹn gia phong của Sở gia, vô cùng lương thiện và trung hậu, cho nên chọn Kinh Thi quả thực không thể phù hợp hơn.
Sở Từ tuy tự thấy tư tưởng của mình rất ngay thẳng nhưng y buộc phải thừa nhận rằng bản thân vẫn còn một khoảng cách khá xa mới gọi là lương thiện trung hậu theo tiêu chuẩn cổ đại.
Như vậy, nếu y tiếp tục nghiên cứu Kinh Thi thì có chút khiên cưỡng. Khi tư tưởng không đồng điệu thì việc đọc sách sẽ ngày càng bế tắc, tới lúc đó chẳng những không nên trò trống gì mà còn rước họa vào thân và tự biến mình thành trò cười cho thiên hạ.
Nhưng Tần phu tử đang dạy y lại là bậc thầy chuyên trị về Kinh Thi. Ông còn từng giành ngôi vị Thơ khôi trong kỳ thi Hương năm xưa, danh tiếng lẫy lừng khiến bao người vừa ngưỡng mộ vừa ghen tị. Tại Huyện Học, ông chỉ thu nhận mỗi Sở Từ làm đệ tử truyền thừa, điều này từng khiến biết bao học trò có chí hướng theo đuổi Kinh Thi phải ngậm ngùi tiếc nuối.
Nếu bây giờ Sở Từ đột ngột tuyên bố không học Kinh Thi nữa mà muốn chuyển sang bộ kinh khác thì e là sẽ bị phu tử đánh đòn cho lươn lưng.
Hơn nữa, ngay cả khi phu tử bằng lòng, y vẫn phải chọn ra một bộ kinh khác để làm môn sở trường.
Người xưa có câu: Kẻ ôn nhu đôn hậu thì học Thơ, người thông hiểu chuyện xưa nay thì học Thư, bậc sáng suốt thấy rõ điều nhỏ nhặt thì học Dịch, người đoan trang cung kính thì học Lễ mà kẻ giỏi đối đáp luận biện thì học Xuân Thu.
Dựa vào học vấn được kế thừa từ thời hiện đại của mình, việc chọn Thượng Thư xem ra là một lối đi khá thuận lợi cho y. Dù sao ở thế giới cũ thì trong nhà y cũng tích trữ rất nhiều tài liệu lịch sử, những lúc rảnh rỗi y thường lật xem nên vô tình đã dung nạp vào đầu không ít kiến thức.
Nhưng sâu trong thâm tâm, bộ kinh y thực sự yêu thích lại là Xuân Thu. Năm xưa Khổng Tử biên soạn kinh Xuân Thu, dùng lời lẽ tinh tế nhưng ngụ ý sâu xa khiến lũ loạn thần tặc tử phải kinh hồn bạt vía. Y đặc biệt say mê tinh thần dũng cảm không sợ hãi và cương trực vô tư ấy.
Bậc võ tướng đọc Xuân Thu sẽ thấy đại nghĩa; bậc văn nhân đọc Xuân Thu sẽ thấy mưu trí; kẻ kiêu hùng xem Xuân Thu sẽ thấy quyền mưu.
Có thể nói thời kỳ Xuân Thu đã đặt nền móng vững chắc cho văn hóa đời sau, ngay cả tác giả của cuốn Luận Ngữ và Đạo Đức Kinh cũng đều sinh ra trong thời đại này. Đó là thời kỳ văn hóa rực rỡ nhất, thời đại trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng mà ngàn năm sau khó lòng xuất hiện lại lần thứ hai.
Một bên Thượng Thư là đường tắt dễ đi, một bên Xuân Thu lại là chân ái chân tình. Sở Từ muốn khóc không nước mắt, vò đầu bứt tai đến sắp trọc đầu, rốt cuộc y nên chọn bộ kinh nào làm môn sở trường đây?
Trong khi Sở Từ còn đang bận dày vò mái tóc của mình ở trong phòng thì bên ngoài sân đã có vài người ghé thăm.
Chung Ly Ngọc khi được bế từ trên xe ngựa xuống liền tò mò ngó nghiêng căn sân trước mắt. Hàng rào tre làm tường bao quanh thưa thớt tới mức có cũng như không, chỉ cần liếc mắt một cái là nhìn thấu hết mọi thứ bên trong.
"Tiểu Viễn Ca Ca!"
Chợt, mắt Chung Ly Ngọc sáng lên, hài tử nhận ra một bóng dáng quen thuộc đang lom khom bên đống rơm, đó chính là người huynh trưởng đồng môn của mình.
Sở Tiểu Viễn nghe thấy tiếng gọi mà hồ nghi quay đầu lại. Sao cậu nhóc cứ có cảm giác như mình vừa nghe thấy giọng nói của cái đuôi dính người kia vậy ta? Nhưng vì góc khuất nên từ chỗ này nhóc không nhìn thấy bên ngoài, sau khi rụt đầu lại một chút, nhóc lại quay đi tiếp tục sự nghiệp đào trứng gà vĩ đại của mình.
Nhóc con dành tình cảm rất sâu đậm cho đàn gà trong nhà. Những con gà này đều do một tay nhóc chăm bẵm từ khi còn là những chú gà con lông tơ vàng óng, nay nuôi lớn chừng này và chúng đã bắt đầu đẻ trứng bói.
"Tiểu Viễn Ca Ca! Huynh đang làm gì vậy ạ?"
Cánh cổng sân vốn không cài then chặt, Từ quản gia vừa lơ là một chút đã để Chung Ly Ngọc tuột khỏi tay mà hăm hở chạy tót vào trong sân.
Hài tử ngồi xổm xuống bên cạnh Sở Tiểu Viễn, tò mò hỏi han và hoàn toàn không nhận ra bả vai Sở Tiểu Viễn đã cứng đờ và hai vành tai ngoài ổ gà đã đỏ ửng lên tự bao giờ.
"Sao đệ lại tới đây!" Sở Tiểu Viễn tức tối hỏi. Đã tự tiện xông vào nhà người khác thì chớ, điều quan trọng nhất là tiểu công tử này lại còn bắt gặp cái dáng vẻ dẩu mông bới ổ gà của nhóc nữa chứ!
"Cữu cữu của đệ gửi thư về, bên trong có cả thư gửi cho Sở Từ thúc thúc nữa nên đệ mới đòi Từ gia gia đưa đệ qua đây đó." Chung Ly Ngọc hớn hở nói, đôi mắt híp lại thành hình vầng trăng khuyết, khuôn mặt nhỏ nhắn lộ ra hai chiếc răng cửa trắng sứ như ngọc.
Đúng lúc này, Sở mẫu cũng từ trong bếp bước ra rồi bà lên tiếng hỏi: "Tiểu Viễn, đứa nhỏ khôi ngô trắng trẻo này là con nhà ai vậy con? Bà nhớ trong làng mình làm gì có đứa trẻ nào xinh xắn như này."
"Con chào nãi nãi Sở ạ, con là Chung Ly Ngọc, là bạn học cùng lớp với Tiểu Viễn ca ca." Chung Ly Ngọc khum hai bàn tay nhỏ mũm mĩm lại, cung kính hành lễ đồng tử. Dáng vẻ ngoan ngoãn ngây thơ của hài tử lập tức chiếm được cảm tình của Sở mẫu.
"Trời ơi, đứa nhỏ này hiểu lễ nghĩa quá! Con đã ăn sáng chưa? Bà vừa mới chiên mấy chiếc bánh bột nếp đây, có muốn nếm thử một chút không nào?" Cách bày tỏ lòng yêu mến trẻ nhỏ của người già bao giờ cũng là dỗ dành bằng đồ ăn thức uống.
"Chào lão phu nhân, chúng ta tự tiện đến bái phỏng mà chưa hẹn trước, thật là thất lễ quá." Từ quản gia đứng ở ngoài cổng lên tiếng. Ông là người lớn, không thể tùy tiện như đứa trẻ mà tự ý xông vào nhà người khác được.
"Ông là gia gia của đứa nhỏ này phải không? Có khách tới nhà là niềm vinh hạnh của chúng ta, mau vào trong nhà ngồi chơi xơi nước đi. Ta vào gọi hài tử của ta ra tiếp đón." Sở mẫu là phận nữ nhi, đối xử với đứa trẻ thì sao cũng được nhưng đối với một người đàn ông lạ mặt trạc tuổi mình thì vẫn nên giữ chừng mực, đứng từ xa nói vài câu xã giao thì không sao, chứ lại gần tiếp chuyện thì không tiện.
Sở Quảng gần đây mới nhận được mười mấy mẫu ruộng, mấy ngày nay hắn luôn đắm mình trong niềm vui lao động cày cấy. Đặc biệt là trưởng thôn còn đứng ra bảo lãnh, cho nhà hắn mượn trâu của làng để dùng trước, điều này chẳng khác nào cá gặp nước khiến hắn phấn khởi tới mức trời chưa sáng đã ra đồng.
Bởi vậy, lúc này trong nhà chỉ có mỗi Sở Từ.
Sở Từ vừa bước ra cửa liền trông thấy Từ quản gia đang đứng đợi ở giữa sân, còn Sở Tiểu Viễn và Chung Ly Ngọc thì đã được nãi nãi dắt vào trong nhà ăn bánh.
"Không biết có khách quý ghé thăm nên không kịp ra đón tiếp từ xa, mong Từ quản gia lượng thứ cho."
"Sở tú tài khách sáo quá, lão già này chỉ là người hầu trong Khấu phủ, sao dám nhận hai chữ khách quý. Ngược lại là chúng ta không mời mà tới, làm phiền đến ngài, xin Sở tú tài đừng trách tội mới phải." Từ quản gia mỉm cười và chắp tay đáp lễ.
Sở Từ thừa hiểu Từ quản gia thực chất đã được xóa bỏ thân phận nô bộc từ lâu. Nếu năm xưa không vì vướng bận gốc gác nô tì khiến con đường khoa cử bị chặn đứng thì e rằng giờ này vị này cũng đã là một bậc tú tài tài danh. Hiện tại, sản nghiệp trong tay Từ quản gia nhiều không đếm xuể, hoàn toàn có thể tự lập môn hộ mà không cần gửi thân nơi Khấu phủ. Vậy mà vị này vẫn trước sau như một, tự coi mình là người hầu trong nhà thì quả là một bậc trung thần nghĩa sĩ. Điều này cũng phần nào phản ánh được nhân phẩm cao đẹp của Khấu lão gia.
Hai người ngồi xuống chiếc bàn nhỏ giữa sân, hàn huyên vài câu xã giao thì Từ quản gia liền bày tỏ mục đích chuyến đi. Một là vì tiểu công tử Chung Ly Ngọc quá nhớ thương người bạn học nhỏ, hai là vì thư nhà của Khấu Tĩnh đã gửi tới, đi kèm còn có một ít phong vật đặc sản của vùng An Thành mà hắn dày công thu thập.
Mối thâm giao thư từ giữa hai người họ xem ra khá mật thiết, mới hơn một tháng ngắn ngủi mà đã trao đổi tới hai phong thư. Tất nhiên, việc này suôn sẻ phần lớn là nhờ họ không dùng tới hệ thống trạm dịch quan phương chậm chạp mà mượn đường thông qua đội thương thuyền vận chuyển hàng hóa do chính Từ quản gia quản lý.
Đối với Sở Từ, việc kết giao được một người bạn tâm giao qua thư từ ở thời cổ đại là một trải nghiệm vô cùng mới mẻ. Y sinh ra vào những năm cuối của thế kỷ trước, tới khi lớn lên một chút thì điện thoại đã phổ biến khắp nơi, bởi vậy y chưa từng được nếm trải cảm giác bồn chồn ngóng trông một cánh thư tay.
Y nhớ thuở nhỏ khi còn ở nhà cũ, trong một lần lục lọi đồ đạc nên y vô tình tìm thấy một xấp thư cũ ngả màu trong chiếc rương gỗ. Người ký tên bên dưới đều là cha y, còn nội dung lại là những lời bày tỏ tình cảm đầy kín đáo nhưng không kém phần nồng nhiệt. Cũng từ lần đó y mới nhận ra, những đấng sinh thành suốt ngày vùi đầu vào biển học thuật khô khan kia, hóa ra cũng từng có một thời thiếu niên lãng mạn và đa tình rới vậy.
Giờ đây, nhờ việc gửi gắm tâm tình qua lại với Khấu Tĩnh, y cũng có thể mở mang tầm mắt và hiểu biết thêm về thế giới bên ngoài giữa thời đại mà tai mắt còn nhiều hạn chế này.
Đợi tới khi Từ quản gia dắt Sở Tiểu Viễn và Chung Ly Ngọc ra ngoài dạo chơi, Sở Từ mới trở lại thư phòng và cẩn thận bóc phong thư ra xem.
"Gửi hiền đệ Sở Từ, mong đệ vẹn tròn bình an khi mở thư này. Gần đây không may gặp phải kỳ quốc tang, lòng người hoang mang như trời sập, ngu huynh vì bận rộn hộ giá, tâm thần bất định nên việc hồi âm có phần trễ nải cũng mong hiền đệ lượng thứ. Huynh vốn nghe danh hiền đệ có chí hướng với con đường khoa cử, Tứ Thư Ngũ Kinh đều đã nằm lòng, trong lòng huynh trưởng này vô cùng an ủi... Chỉ là trường kỳ sắp cận kề, không biết hiền đệ đã thu xếp ổn thỏa việc nhà để chuyên tâm vào nghiệp sách đèn hay chưa... Nguyện cầu hiền đệ sớm ngày chiếm được bảng vàng cùng tiếng thơm bay xa. Ngu huynh ngóng đợi hồi âm của đệ, Khấu Tĩnh kính thư."
Những lời này của Khấu Tĩnh trước là ngầm thả tinh túy cho Sở Từ biết rằng khoa cử năm nay chắc chắn sẽ mở khoa ân ban nên nhắc nhở y mau chóng chuẩn bị. Sau lại bày tỏ sự quan tâm đến việc học hành của y, ý nói nếu có điều gì thắc mắc cứ việc hỏi han, dù sao Khấu Tĩnh trước đây cũng từng đỗ danh vị cử nhân. Còn những lời ước hẹn sau cùng, dường như hắn đang muốn tiết lộ chuyện mình sắp sửa được điều chuyển chức quan về lại phủ Cam Châu, bằng không thì sao lại dùng đến hai chữ "đích thân tới chúc mừng"?
Sở Từ trầm ngâm suy nghĩ một hồi, liền mài mực trải giấy, hạ bút viết thư trả lời.
"Kính gửi huynh Mặc Chi, nhìn chữ như thấy mặt.."
Y đem hết những trăn trở, mâu thuẫn trong lòng mình bày tỏ với Khấu Tĩnh. Việc chọn lựa bộ kinh nào làm môn sở trường là đại sự cả đời, y lại không tiện mở lời dò hỏi phu tử nên chỉ có thể tham khảo ý kiến của Khấu Tĩnh. Chẳng rõ năm xưa khi đi thi, Khấu Tĩnh đã chọn nghiên cứu bộ kinh nào? Nhìn vào tính cách trầm ổn của hắn, xem ra khả năng lớn là chọn Kinh Thi hoặc Kinh Lễ rồi.
![[Đam Mỹ] Xuyên Qua Cổ Đại Làm Phu Tử](https://img.wattpad.com/cover/410951539-256-k955182.jpg)
![[HOÀN EDIT] SAU KHI BỊ THÁI TỬ CAO LÃNH CHI HOA CƯỜNG THỦ HÀO ĐOẠT](https://img.wattpad.com/cover/415068711-256-k643426.jpg)
![[Edit- Full]Sủng phi- Triêm Y (cường , sắc, sủng)](https://img.wattpad.com/cover/128941619-256-k806867.jpg)
![[HOÀN EDIT] BẠO QUÂN NGHE THẤY TIẾNG LÒNG CỦA TA - Điền Viên Phao](https://img.wattpad.com/cover/407944329-256-k236793.jpg)
![[HOÀN EDIT] CHÀO BUỔI SÁNG - Hạ Nặc Đa Cát](https://img.wattpad.com/cover/404446009-256-k876546.jpg)
![[HOÀN EDIT] DAO DAO BẤT TRI Ý - Lê Đông Vụ](https://img.wattpad.com/cover/415297398-256-k731896.jpg)
![[BH-ABO-HOÀN][H Văn][Tự Viết] Dục Vọng Chiếm Hữu.](https://img.wattpad.com/cover/352350928-256-k833976.jpg)
