(Hoàn) Xuyên Thành Tiểu Phu Lang Mang Mệnh Khắc Phu
(Hoàn) Xuyên Thành Tiểu Phu Lang Mang Mệnh Khắc Phubởi ocuamua

Chương 29: Người hảo tâm Sầm phu lang.

000

bởi ocuamua


bởi ocuamua

Chia sẻ

Đậu Đậu sốt đến mức bắt đầu co giật.

Sắc mặt Lâm đại phu biến đổi, trở nên vô cùng nghiêm trọng. Ông bế đứa bé đặt nằm phẳng trên sập, sau đó sai tiểu đồ đệ lấy kim châm tới, vừa lo hạ nhiệt, vừa kê đơn và hối thúc sắc thuốc gấp.

Khương đại tẩu sợ đến mức mất hết hồn vía, chân nhũn ra quỳ rạp dưới sập mà cầu xin lang trung cứu lấy Đậu Đậu. Khương Đại Tráng cũng sợ hãi không kém, chẳng kịp đỡ vợ, cái thân hình cao lớn cứ đứng sững ở đó, tay bấu chặt vào nhau.

"Đại tẩu, đại ca, hai người đừng đứng chắn chỗ, để lang trung yên tĩnh xem bệnh cho Đậu Đậu." Khương Nhị Miêu đỡ đại tẩu dậy, nhường lối cho tiểu lang trung chạy tới chạy lui, cũng để tránh che khuất ánh sáng.

Khương đại tẩu chẳng còn sức mà đứng vững, Khương Nhị Miêu phải vừa dìu vừa kéo. Cả nhà họ cứ như lũ chim cút, đứng nép ở cửa, bao nhiêu tinh lực và ánh mắt đều dồn cả vào chiếc sập nhỏ kia, đến hơi thở cũng trở nên căng thẳng.

Đậu Đậu "oẹ" một tiếng lại nôn ra, toàn là nước, mà lại là nước màu vàng.

"Sáng... sáng nay cũng đâu có ăn cháo." Khương đại tẩu lẩm bẩm, sao màu nước lại vàng thế kia.

Lâm đại phu chẳng rảnh tay mà đáp lời, ông hạ châm, sai đồ đệ giúp lau rửa người cho đứa bé. Đợi đến khi đứa nhỏ dần bình phục, không còn co giật nữa thì đã là chuyện của một nén nhang sau đó.

Khương đại tẩu sớm đã khóc thành người lệ, chẳng dám mở miệng hỏi lang trung xem Đậu Đậu thế nào. Cảnh tượng Đậu Đậu vừa rồi khiến nàng ta chẳng dám nghĩ tiếp nữa.

Khương Nhị Miêu cất tiếng hỏi, nhưng giọng hắn run bần bật, hắn cũng bị dọa cho khiếp vía: "Lang trung, Đậu Đậu sao rồi? Có phải đã khỏi rồi không?"

"Chỉ là tạm giữ được tính mạng, nhưng vẫn còn sốt, phải hạ sốt đã." Lâm đại phu ngồi chẩn bệnh mấy chục năm, trấn Thanh Ngưu này cùng các thôn xóm lân cận, bệnh trạng lớn nhỏ gì ông cũng đã thấy qua không ít.

Bệnh nan y thì ông chịu, nhưng chứng bệnh của đứa bé này ban đầu vốn không khó, ông đã từng gặp và chữa khỏi. Lâm đại phu thở dài: "Vốn chỉ là phong hàn, nếu đưa đến sớm, uống hai thang thuốc là khỏi."

"Chưa bàn đến chuyện chậm trễ thời gian, chính loại thuốc các người cho đứa bé uống đã làm bệnh nặng thêm."

Khương Đại Tráng hối hận khôn cùng, nghẹn ngào nói: "Đơn thuốc đó là trước kia tam thúc ta bị phong hàn được lang trung kê cho, còn thừa lại một thang. Lần này Đậu Đậu bị bệnh giống hệt tam thúc, nên nhà ta mới cho nó uống."

"Tam thúc ngươi bao nhiêu tuổi, đứa bé này bao nhiêu tuổi?" Giọng Lâm đại phu trầm xuống mấy phần, "Chỉ uống một thang thì không đến nông nỗi này, rốt cuộc đã uống bao lâu rồi?"

Khương Nhị Miêu run giọng đáp: "Sau đó thấy không thuyên giảm, nhà ta lại bốc thêm ba thang nữa." Bởi vì thuốc đó rẻ, lại là thầy lang vườn kê, tam thúc uống khỏi nên cả nhà đều nghĩ là hiệu nghiệm, đều dồn cho Đậu Đậu uống cả.

"Đứa bé còn quá nhỏ, uống vào hỏng cả phổi rồi. Dù có hạ sốt, sau này cũng sẽ ho hắng không dứt, trừ phi ——!"

"Trừ phi sao ạ?" Khương đại tẩu vội hỏi.

Lâm đại phu nhìn đôi giày vải dưới chân và những miếng vá trên áo ba người, nhíu mày nói: "Phải dùng nhân sâm mà bồi bổ dần dần, nuôi lại cái phổi đã bị tổn thương kia."

Sâm?

Khương Đại Tráng bảo sẽ dùng, rồi hỏi: "Hết bao nhiêu tiền ạ?"

"Loại sâm nhỏ rẻ nhất cũng phải mất bốn lạng bạc." Lâm đại phu nói xong thầm thở dài, "Cứ lo hạ sốt cho đứa nhỏ trước đã rồi tính sau."

Khương đại tẩu nghe đến bốn lạng bạc thì đổ ập vào người chồng. Bốn... bốn lạng ư, sao mà đắt thế. Khương Đại Tráng nghiến răng, ôm lấy vợ bảo: "Ta sẽ về cầu xin nãi nãi, nhà mình không phải là không có."

"Hôm qua năm mươi văn tiền cũng là đi cầu xin mới có. Nếu không nhờ Nhị Miêu gặp được vị quý nhân hảo tâm mua mầm quả, góp thêm được bảy mươi chín văn, thì hôm nay cũng chẳng dám đi gặp lang trung. Năm lạng bạc này chẳng phải là đòi mạng cả nhà mình sao." Khương đại tẩu khóc ròng.

Khương Đại Tráng nói: "Thế nhưng không thể mặc kệ sống chết của Đậu Đậu, Đậu Đậu cũng là máu mủ nhà họ Khương."

"Phải rồi, nhà mình không phải không có bạc, có đấy chứ. Trước đây Đậu Đậu bệnh, gia gia nãi nãi không biết, cứ ngỡ là phong hàn vặt nên mới không đưa tiền. Tẩu đừng khóc nữa, chúng ta về thưa với nãi nãi, cầu xin nhiều một chút chắc người sẽ cho thôi." Khương Nhị Miêu an ủi.

Bất kể về nhà phải nói năng thế nào, trước hết cứ phải đợi Đậu Đậu hạ sốt đã.

Tề lão gia ở bên trong nghe một hồi, lão đã thấy quá nhiều chuyện như thế này, chỉ khẽ cảm thán đôi chút rồi cũng chẳng uống trà nữa mà đi về hậu viện. Giờ đây lão lười về Tề gia, trừ chỗ của hai vị di nương còn có chút thanh nhàn, chứ ở chỗ Đỗ thị thì ồn ào đến nhức cả đầu.

Trước kia Đỗ thị lén mang ít đồ ăn hay vài đồng bạc về nhà mẹ đẻ, Tề lão gia đều nhắm mắt làm ngơ, dù sao cũng là họ hàng thông gia. Nhưng Đỗ thị nay tâm tham đã lớn, còn muốn nhét cả Đỗ Lục vào tiệm thuốc. Chính vì vậy lão mới mượn cơ hội này mà chỉnh đốn một phen.

...

Tại tiểu viện Tề gia.

Giấc ngủ trưa hôm nay hơi dài, hai người nằm cạnh nhau quá đỗi thoải mái. Sầm Việt ngủ có phần say, có lẽ do đêm qua nghỉ ngơi không tốt. Đến khi tỉnh dậy, ánh sáng bên ngoài đã hơi tối —— cửa sổ dán giấy nên ánh sáng không tốt lắm, trong phòng có vẻ âm u. Nhưng cũng chưa đến mức tối mịt như lúc sẩm tối.

Sầm Việt nhỏm dậy mặc ngoại y, khẽ véo má "đứa trẻ lớn". Tề Thiếu Phi "ư hừ" hai tiếng, mơ màng mở mắt, gọi "Việt Việt". Sầm Việt bảo: "Không được ngủ nữa đâu, kẻo tối lại mất ngủ đấy. Dậy đi thôi, ta đi xem mấy mầm dâu tây thế nào rồi."

"A Phi cũng muốn đi xem!" Tề Thiếu Phi lập tức tỉnh táo hẳn.

Mấy mầm cây trồng hôm qua, sáng nay xem qua thấy vẫn ổn. Hắn chưa tưới nước, đợi đến trưa lúc trời nóng Sầm Việt mới rảy chút nước. Vốn định ngủ dậy sẽ làm một cái bình tưới đơn giản, kết quả lại ngủ quên mất. Ngủ quá giờ thì thôi vậy.

Hai người sửa soạn xong xuôi. Tề Thiếu Phi ở trong tiểu viện giờ hay mặc bộ quần áo ngắn do Lưu ma ma làm, vải mềm, màu hơi thẫm, rất hợp để làm việc đồng áng. Hắn mặc xong là chẳng còn thiết tha gì mấy bộ trường bào nữa.

"Tam thiếu gia tỉnh rồi ạ." Tiểu Cúc gọi.

Tề Thiếu Phi "ừm" một tiếng, hớn hở nói: "A Phi và Việt Việt đi xem mầm cây đây."

Sầm Việt đi phía sau, chẳng hiểu sao trẻ con lúc nào cũng có năng lượng dùng mãi không hết, lại còn luôn tỏ ra vui vẻ hạnh phúc với những điều nhỏ nhặt nhất, mà lại là niềm vui chân thành từ tận đáy lòng. Thế nên ở cạnh trẻ con thực sự rất dễ bị lây lan cảm xúc —— tất nhiên "trẻ con" phải như đứa trẻ lớn nhà y, chứ còn hạng như Tề Thiếu Tu thì cứ trực tiếp "đánh cho một trận" là xong.

Cửa tiểu viện trước khi Sầm Việt gả vào luôn đóng kín, giờ thì chỉ khép hờ. Tề Thiếu Phi chạy lên trước vài bước, rồi quay đầu đợi y đi cùng. Sầm Việt nói: "Xem qua một chút rồi không tưới nước nữa. Ta đi kéo mấy cây tre vào viện, tranh thủ trời còn sáng làm cái bình tưới nước."

"Được! A Phi làm!" Tề Thiếu Phi nhận được nhiệm vụ thì vui lắm.

Sầm Việt bước ra khỏi cửa viện, bên ngoài chính là ruộng dâu tây nhỏ. Tề Thiếu Phi ngồi xổm bên cạnh quan sát kỹ lưỡng, rồi mới nói: "Việt Việt, mầm cây đều tốt lắm."

Được tưới nước suối không gian, tỉ lệ sống sót sẽ cao hơn. Sầm Việt đoán được điều đó nên mới yên tâm, nếu không y cũng chẳng hỏi mua mầm từ Nhị Miêu, y cũng đâu phải hạng người vung tiền qua cửa sổ.

"Đợi thêm vài ngày nữa để quan sát xem sao." Sầm Việt đứng dậy, nhưng trong lòng đã có chín phần chắc chắn dâu tây sẽ sống được, bớt đi một phần cho khiêm tốn thôi.

Cạnh ruộng dâu có đống tre phế thải, lá tre đã được dọn sạch, chỉ còn lại thân tre. Có lẽ do địa thế hoặc lý do nào đó, mấy cây tre này mọc không cao, lúc chặt xuống Sầm Việt đã tỉa tót lại rồi.

"Việt Việt, cây này béo tròn này." Tề Thiếu Phi đưa tay sờ thử, chọn một cây to.

"Vậy lấy cây này đi, chứa được nhiều nước."

Tề Thiếu Phi vâng lời, định ôm gióng tre về viện. Sầm Việt hỏi hắn có mệt không, để y cầm cho? Tề Thiếu Phi lắc đầu thật mạnh, vẻ mặt vênh váo: "A Phi là tướng công của Việt Việt, A Phi làm được!"

"..." Sầm Việt câm nín. "Lưu ma ma lại nói gì với ngươi rồi?"

Tề Thiếu Phi ôm gióng tre đi phía trước, đầu lắc như trống bỏi.

"Vậy là ngươi nghe thấy cái gì rồi?"

Tề Thiếu Phi quay đầu lại, vành tai đỏ ửng, ngoan ngoãn nói: "A Phi không có nghe trộm đâu."

"Ta biết rồi, ngươi sẽ không nghe trộm, ngươi chỉ tình cờ nghe thấy thôi." Sầm Việt bào chữa hộ hắn. Tề Thiếu Phi lại vui vẻ hẳn lên, tuôn ra hết những gì nghe được: "Tiểu Cúc khen A Phi và Việt Việt tốt, nói Việt Việt thương A Phi."

Sầm Việt gật đầu, chẳng sai chút nào.

"Lưu ma ma nói với Tiểu Cúc rằng 'Tam thiếu gia làm tướng công, sau này lớn lên cũng sẽ thương phu lang'. A Phi đã lớn rồi, A Phi thương Việt Việt!"

Sầm Việt nén cười, cố ý trêu chọc: "Vậy Tam thiếu gia nhà ta định thương ta thế nào đây?"

"A Phi ôm tre." Sầm Việt gật đầu.

"A Phi ủ ấm chăn cho Việt Việt." Khá lắm khá lắm.

"Thứ gì Việt Việt không thích ăn thì A Phi ăn." Rất tốt rất tốt.

"Việt Việt nói gì A Phi làm nấy."

Sầm Việt cười muốn xỉu, miệng khen ngợi: "Vậy Tam thiếu gia nhà ta quả thực là một tướng công tốt, biết thương ta!"

Tề Thiếu Phi lấy làm tự hào lắm.

"Tam thiếu gia giúp ta lấy dụng cụ đi." Sầm Việt bắt đầu sai bảo. Tề Thiếu Phi đồng ý ngay, đặt tre xuống rồi chạy vội đến phòng kho, xong lại quay lại hỏi y cần gì. Sầm Việt đi phía sau, miệng thong thả bảo: cưa, búa, đinh.

Tề Thiếu Phi ghi nhớ, nhanh chóng tìm ra hết cho y xem.

"Đều đúng cả."

Hai người cùng làm bình tưới tre trong viện. Chọn một đoạn tre to nhất, cưa đứt mặt đốt bên dưới, đục những lỗ nhỏ ở đáy, phía trên chừa ra một đoạn làm tay cầm là xong, một chiếc bình tưới đơn giản.

Sầm Việt làm một mạch hai cái, Tề Thiếu Phi đứng bên cạnh nhìn với ánh mắt thèm thuồng, Việt Việt thật lợi hại.

"Chuyện nhỏ thôi mà~." Tâm trạng Sầm Việt cũng rất tốt.

Làm xong thì trời cũng đã sẩm tối, hai người thu dọn dụng cụ, sân viện cũng đã được quét tước sạch sẽ. Lưu ma ma thấy Tam thiếu gia và phu lang bận rộn xong xuôi, liền bảo có thể dùng cơm.

Tiểu Cúc mang nước nóng đến, phu thê hai người rửa mặt mũi chân tay rồi vào ăn cơm.

Bữa tối có cháo khoai lang đậu đỏ, một đĩa gà xé phay bóp thấu, bên trong có đậu phộng rang và rau xanh theo mùa, món chính là bánh thịt.

Bếp núc tiểu viện giờ đây đều nấu theo khẩu vị của Sầm Việt, chính xác là theo cách làm của y. Trước đây Lưu ma ma hiếm khi làm đồ trộn vì là đồ nguội, sợ Tam thiếu gia đau bụng. Lưu ma ma vốn chăm sóc Tề Thiếu Phi như chăm trẻ nhỏ. Huống hồ trong món trộn còn bỏ thêm đậu phộng rang, đây cũng là cách làm của Sầm Việt. Đồ trộn thời này đâu có cầu kỳ thế, đậu phộng chiên dầu thì tốn mỡ lắm.

Sầm Việt làm như vậy hương vị rất ngon, Tề Thiếu Phi rất thích, cái gì cũng ăn sạch sành sanh. Ban đầu Lưu ma ma và Mai Hương còn né tránh, không dám hỏi học cách y làm, vì y nấu ăn ngon, nhỡ đâu có bí phương gì thì không tiện hỏi thăm. Kết quả là tề quân không những không giấu nghề mà còn dạy họ cách làm. Lưu ma ma lúc đó ngẩn cả người, quay lại dặn Mai Hương, Tiểu Cúc phải học cho kỹ, tề quân bằng lòng dạy là việc tốt.

Như lúc này đây, Sầm Việt nhìn bánh thịt trên bàn, không nhịn được nghĩ đến món bánh thịt bò giòn rụm y hay làm. Thời này ăn thịt bò hơi khó —— trâu bò là sức kéo cày ruộng, không được tự ý giết mổ, dân thường ít khi được ăn thịt bò.

"Loại bánh này ta còn biết một cách làm khác." Sầm Việt bảo với Mai Hương: "Ngày mai ta dạy ngươi một chiêu."

Mai Hương lập tức mỉm cười: "Vậy nô tỳ xin tạ ơn tề quân." Nói rồi nàng ta lui ra đi ăn cơm.

Tề Thiếu Phi nghe thấy ngày mai Việt Việt vào bếp thì mừng rỡ khôn xiết, Việt Việt nấu cơm là thơm nhất, ngon nhất trần đời.

Dùng bữa xong, tắm rửa sạch sẽ, hai người cùng đi dạo trong sân cho tiêu cơm.

Trong khi đó, Khương Nhị Miêu cùng ca tẩu bế cháu trai, nhân lúc đêm tối mới đi bộ về nhà. Khương Đại Tráng ôm con, lấy ngoại y đắp cho nó. Đường về đi chậm hơn, Đậu Đậu cứ kêu đói.

"Về nhà là được ăn ngay, sắp tới nhà rồi." Khương đại tẩu vỗ về con.

Chân mày cả ba người đều nhíu chặt, nghĩ đến số bạc mà lang trung nói, nghĩ đến việc về nhà phải thưa chuyện thế nào.

Về đến nơi thì trời đã tối hẳn. Nhà lớn họ Khương đã ăn cơm từ sớm, ở nông thôn đều như vậy, tranh thủ trước khi trời tối là ăn uống dọn dẹp xong xuôi để đỡ tốn dầu đèn. Lúc ba người về đến nhà, cổng lớn đã đóng chặt, gọi vài tiếng mới nghe giọng Khương mẫu đáp: "Đến đây, đến đây."

Cửa gỗ kêu lên "két" một tiếng.

"Sao giờ này mới về? Đậu Đậu thế nào rồi?" Khương mẫu mãi không ngủ được, con cháu chưa về bà cứ lo canh cánh trong lòng nên ra sân đứng đợi.

Khương Đại Tráng không biết trả lời sao, Khương đại tẩu thì đắng chát trong lòng.

Trong bóng đêm, Khương mẫu không nhìn rõ, chỉ nghe tiếng Đậu Đậu gọi đói. Khương mẫu vui mừng: "Đậu Đậu khỏi rồi sao? Đã biết gọi đói rồi, lát nữa nãi nãi đút cơm cho con." Bà giục mấy người vào nhà, đồng thời hạ thấp giọng: "Gia gia nãi nãi con đi nghỉ cả rồi, vào phòng rồi hãy nói chuyện."

Ý là đừng đứng ở sân mà nói, sợ làm thức giấc mọi người. Thực ra tầm này vẫn chưa đến giờ đi ngủ, chỉ là nhà đại phòng trong cái nhà này chẳng có địa vị gì, hiền lành quen rồi nên cũng sợ Khương lão thái.

Khương Đại Tráng im lặng ôm con về phòng trước.

Trong phòng hiếm khi thắp đèn dầu, cũng chẳng còn cách nào khác, mấy người đi vắng đều chưa ăn gì. Cơm thừa vẫn còn nóng trong nồi ở bếp, Khương mẫu bưng ra. Cô bé Tam Hoa bảy tuổi bận rộn chạy đôn chạy đáo phụ giúp, Khương phụ cũng ở trong phòng, nhưng không nói lời nào, chỉ ngồi im trong góc.

"Đậu Đậu sao rồi? Nương thấy tinh thần nó khá hơn rồi đấy, đừng nói là bà đồng xem đúng thật nhé, có khi chẳng phải bị lạnh đâu mà là bị phạm phải thứ gì rồi." Khương mẫu thấy mặt mũi cháu nội có chút sắc hồng, giọng điệu cũng nhẹ nhõm hẳn. Coi như là đã khỏi rồi.

Khương Nhị Miêu không nhịn được thốt lên: "Đậu Đậu lúc trưa còn bị sốt đấy ạ, chiều mới hạ sốt thôi."

"Cái gì? Lại sốt sao?" Khương mẫu lập tức căng thẳng, "Nhị Miêu con đừng có nói bậy."

Đậu Đậu nằm trong lòng nương, tinh thần không được tốt, cứ lờ đờ, giọng cũng khản đặc, khẽ gọi đói. Khương đại tẩu liền cho con ăn cháo trước.

Khương Nhị Miêu chẳng biết phải nói thế nào, hắn nói nương cũng chẳng tin.

"Nhị Miêu không nói bậy đâu, hôm nay chúng con không đi tìm bà đồng, mà đưa Đậu Đậu vào trấn gặp lang trung rồi." Khương Đại Tráng chẳng đụng đến bát cơm, hắn ta nuốt không trôi.

Lúc này Khương phụ mới sốt ruột, sao lại vào trấn gặp lang trung, rồi lang trung nói thế nào.

Mắt Khương Đại Tráng đỏ hoe, nói: "Đại phu bảo, nếu đưa đến sớm, uống hai thang thuốc là khỏi, đằng này bị trì hoãn đã đành, lại còn cho uống thuốc bừa bãi nên càng nặng thêm."

"Sao lại là uống bừa bãi, tam thúc con uống chẳng khỏi rồi đó sao." Khương phụ gắt lên.

Khương Đại Tráng: "Đại phu nói thuốc đó trẻ nhỏ không uống được, uống vào hại người."

"Sao... sao lại thế được, tam thúc con uống khỏi nên mới cho Đậu Đậu uống mà." Khương mẫu cũng sốt sắng, vành tai đỏ ửng.

Những lời này cứ như một vòng lặp, cứ quanh đi quẩn lại mấy câu đó.

Khương Nhị Miêu nghe đến mức chẳng muốn ăn nữa, nói: "Giờ nói mấy chuyện này cũng vô dụng thôi. Cha nương, hai người không được tận mắt chứng kiến đấy thôi, lúc đưa Đậu Đậu đến đó nó vừa nôn vừa sốt, sốt đến mức co giật, ca tẩu sợ đến chết khiếp. Đại phu bảo Đậu Đậu bị thương... bị thương cái phổi kia rồi. Thương phổi, lại ho quá lâu không khỏi, thuốc của người lớn có khi dược tính quá nặng."

"Vậy giờ đã khỏi chưa? Đại phu nói sao?" Khương phụ hỏi Nhị Miêu. Nhị Miêu nói năng lưu loát hơn anh cả.

Khương Nhị Miêu đáp: "Lâm đại phu bảo Đậu Đậu đã hạ sốt, nhưng còn phải trị ho và bồi bổ phổi. Phổi bị tổn thương rồi, nếu không nuôi lại cho tốt, sau này cứ ho hắng suốt thì sẽ thành người bệnh tật, có khi sẽ... sẽ..."

"Sẽ sao, con nói đi."

Khương Đại Tráng khản giọng: "Sẽ không lớn nổi, không sống thọ được."

Khương đại tẩu bật khóc thành tiếng.

"Sao... sao mà nghiêm trọng thế." Giọng Khương mẫu cũng run rẩy, "Có phải thầy lang nói dối không, Đậu Đậu vẫn tốt mà, sao lại nghiêm trọng thế được."

Lại vẫn là mấy câu nói đó lặp đi lặp lại.

Khương Nhị Miêu lúc trưa nghe thấy thì lòng đau như cắt, giờ thì đã tê dại rồi. Hắn biết nương hắn đang sợ hãi, không muốn và không dám nghĩ đến kết quả xấu, nhưng nay đại phu đã nói vậy rồi, cứ nói đi nói lại mấy câu này thì Đậu Đậu cũng chẳng khá lên được. Không thể nào họ cứ bảo là "tốt" thì đứa nhỏ sẽ tự khỏi.

"Đại phu bảo phải dùng nhân sâm bồi bổ dần, một củ sâm mất bốn lạng bạc. Hôm nay tiền chẩn bệnh mất mười văn, không mua nổi sâm nên Lâm đại phu kê cam thảo, xuyên bối, tỳ bà..."

"Trước mắt kê ba thang để uống xem sao, hết chín mươi văn tiền." Khương Nhị Miêu vò đầu bứt tai, "Trưa nay cả nhà cũng chưa ăn gì, mua cho Đậu Đậu một bát cháo mất hai văn, còn lại... còn lại hai mươi bảy văn."

Ba người lớn đều nhịn đói, sáng mang theo bánh ngô từ nhà đi thì ăn tạm cho qua bữa, chủ yếu là cũng chẳng thấy đói, lúc lo lắng sợ hãi thì chẳng thấy đói khát gì.

"Cái gì?! Tiền ở đâu ra?" Khương phụ hỏi. Khương mẫu thì hỏi: "Bốn lạng bạc ư?"

Khương Nhị Miêu lúc này mới thấy đói, vừa húp cháo vừa gặm bánh ngô, chẳng buồn nói chuyện. Khương Đại Tráng kể: "Nhị Miêu bán mầm quả dại gặp được quý nhân, kiếm được bảy mươi chín văn tiền. Nếu không phải nó bảo đi gặp lang trung, cứ tiếp tục cho uống loại thuốc kia thì Đậu Đậu chẳng còn đường sống."

"Đúng là gặp được quý nhân." Khương Nhị Miêu đặt bát xuống, dùng mu bàn tay quẹt miệng, "Đậu Đậu mạng lớn, thật may mắn."

Khương đại tẩu nãy giờ mải đút cho con không nói lời nào, nghe Nhị Miêu nói "Đậu Đậu mạng lớn", mắt nàng ta lại đỏ lên, trong lòng nảy sinh một ý chí kiên định. Phải rồi, Đậu Đậu nhà nàng ta mạng lớn, có phúc khí, vượt qua được kiếp nạn này chắc chắn sau này sẽ không còn bệnh tật tai ương gì nữa.

Nghĩ đến đó, Khương đại tẩu ôm Đậu Đậu quỳ sụp xuống: "Cha nương, con cầu xin hai người, hãy chữa bệnh cho Đậu Đậu đi. Sâm tuy đắt, nhưng nếu cứ trì hoãn mãi thì mạng của Đậu Đậu sẽ không còn mất."

Khương mẫu kéo con dâu dậy, Khương đại tẩu không chịu đứng, cho đến khi Khương mẫu bảo sẽ làm Đậu Đậu sợ, nàng ta mới đứng lên, mặt đẫm nước mắt.

"Đây là cháu chắt nhà mình, không thể... không thể nhìn đứa trẻ ra nông nỗi này được." Khương phụ hạ quyết tâm nói.

Vợ chồng Khương phụ vốn rất sợ Khương lão thái, đặc biệt là nỗi sợ đã ăn sâu vào máu thịt của Khương phụ. Từ nhỏ ông ta đã bị nương mắng nhiếc, chưa bao giờ được khen ngợi hay yêu thương, nên ông ta cứ như con trâu già trên đồng, chỉ biết lầm lũi làm việc. Nhưng dù có sợ nương đến mấy, so với mạng sống của cháu trai, Khương phụ vẫn biết bên nào nặng bên nào nhẹ.

Vợ chồng Khương Đại Tráng nghe vậy thì thở phào nhẹ nhõm. Chỉ duy có Khương Nhị Miêu đang cắm cúi ăn là không thấy nhẹ lòng chút nào. Hắn nhớ lại lời dân làng nói, nhớ đến việc nãi nãi ghét nhất là nhà hắn đòi tiền, hắn cảm thấy việc mua sâm chữa bệnh cho Đậu Đậu chắc chắn sẽ gặp trở ngại lớn trong nhà.

Sáng sớm hôm sau.

Gần đây trời nóng, mầm lúa mạch lớn nhanh nhưng cũng sợ hạn, nhà nhà trong thôn đều gánh đòn gánh đi múc nước, vì vậy bữa sáng cũng được nấu linh đình hơn —— thường thì lúc nông nhàn không làm việc sẽ không có bữa sáng.

Lúc ăn sáng cũng là lúc cả gia đình ngồi trong sân, đa số là cầm bánh bao mà ăn. Hôm nay khác hẳn mọi ngày, Khương lão đại đi thẳng vào bếp.

"Nương, con có chuyện muốn thưa với nương." Khương phụ nói.

Khương lão thái tỏ vẻ chán ghét: "Ngươi là đàn ông con trai chạy vào bếp làm gì? Mau ra ngoài đi, sáng sớm ra đã như ma đói đầu thai thế kia..."

"Con không phải vào đòi bánh đâu ạ." Khương phụ ấp úng.

Khương lão thái nghe vậy liền càm ràm, vừa nhìn thấy dáng vẻ không rặn nổi một lời của con trai cả là bà ta lại nổi hỏa, đều là con mình sinh ra, sao lại sinh ra hạng người thế này: "Có gì thì nói mau đi, cứ lù rù như thế ta nhìn mà phát bực."

Khương phụ chịu trận mắng nhiếc của nương, sớm đã thành thói quen. Trên khuôn mặt đầy nếp nhăn hiện rõ vẻ khổ sở và van nài, ông ta nói: "Đậu Đậu sắp không trụ được nữa rồi."

"... Cái gì? Ngươi ăn nói xằng bậy cái gì thế!" Khương lão thái vung tay đánh bộp bộp hai cái vào người lão đại, "Có ai làm ông nội mà lại đi rủa cháu mình như thế không, phỉ phui cái mồm."

Mấy cô con dâu đang thổi cơm trong bếp đều ngẩn cả người.

Khương phụ mắt đẫm lệ, chịu đòn cũng phải nói: "Nương ơi, nương cứu lấy Đậu Đậu với, không cứu nó là nó mất mạng thật đấy. Con chỉ có mỗi một thằng con trai là Đại Tráng, con của nó còn nhỏ quá, mới hơn một tuổi thôi, nương ơi, nương..."

Trong ký ức của Khương lão thái, bà ta chưa bao giờ thấy con trai cả khóc. Lúc này nghe tiếng khóc, động tác trên tay bà ta khựng lại. Khuôn mặt gầy gò có phần khắc nghiệt của bà lão hiện lên vẻ không tin, nhưng bà ta biết con trai mình vốn thật thà, sẽ không lấy chuyện này ra lừa gạt.

"Vợ thằng Ba, đi gọi bố chồng ngươi ra, vào nhà chính mà nói chuyện. Đàn ông chưa xuống đồng thì cứ khoan hãy đi." Khương lão thái ra lệnh.

Khương lão đại nghe nương bảo gọi cha, lại còn vào nhà chính nói chuyện thì lập tức thấy sợ hãi. Khương lão thái nhìn mà phát bực, sao lại hèn mọn thế không biết. Bà ta lườm lão đại một cái, nói: "Bệnh của Đậu Đậu, phải nói cho rõ ràng mới được."

Người già kiêng kị nhiều thứ, không muốn nhắc đến những từ xui xẻo, nên cứ nói lấp lửng cho qua.

Nhà chính họ Khương sáng sớm đã đầy người đứng kẻ ngồi. Khương lão đầu bảo lão đại nói cho rõ: "Đứa nhỏ sao rồi?"

"Để đứa nào nói năng lưu loát mà nói." Khương lão thái biết tính con trai cả, nếu để ông ta nói thì chắc hết ngày cũng chưa xuống đồng được.

Khương Đại Tráng bảo: "Nhị Miêu, đệ nói đi."

"..."

Đứng ở góc cửa, Nhị Miêu phải hứng chịu ánh nhìn của cả nhà. Hắn không nghĩ đại ca đang hại mình, đại ca cũng giống cha, sợ nói không gãy gọn thì gia gia nãi nãi không coi trọng bệnh của Đậu Đậu, nên hắn định trình bày rõ ràng từ đầu đến cuối. Hắn cũng sợ nói không tốt thì bà nội không đưa tiền.

"Lúc Đậu Đậu mới phát bệnh, cả nhà lấy thuốc thừa của tam thúc cho nó uống, uống hết cũng không thấy đỡ. Cha con đã hỏi xin tiền một lần nhưng nãi nãi không cho..." Khương Nhị Miêu thấy nãi nãi lườm mình, sợ đến mức nuốt nước bọt cái ực, rồi nói tiếp: "Con vào rừng hái quả dại, chính là lần vào trấn bán đó, được mười văn. Cha con có bốn mươi văn trong tay, lại mua thuốc cho Đậu Đậu uống."

Khương lão thái vốn biết mỗi gia đình nhỏ đều có tiền riêng giấu túi, nhưng không ngờ chỉ có bốn mươi văn. Hồi đó Đậu Đậu ho hắng vì bị lạnh, bà ta cho là bệnh vặt. Bà ta sinh được bảy người, vượt qua cả nạn hạn hán, nuôi lớn năm đứa con, chuyện gì mà chưa từng thấy qua? Cứ ngỡ chỉ là bệnh nhỏ, không đáng ngại.

"Vị Sầm phu lang mua quả của con trên trấn muốn mua thêm mầm quả, chính là lần con bị trẹo chân ấy ạ. Ba hôm trước chân khỏi hẳn, con mới đeo gùi mầm cây vào trấn bán."

"Bán được bảy mươi chín văn tiền."

Trong nhà chính bắt đầu xì xào bàn tán: Thứ đó mà cũng bán được tiền sao? Những bảy mươi chín văn cơ á? Nhị Miêu sao không nói với gia đình, hèn chi hôm trước nhà anh cả còn hỏi xin tiền mẹ chồng để chữa bệnh cho Đậu Đậu, hóa ra là có tiền mà.

"Câm mồm hết cho ta." Khương lão thái quát lên một tiếng. Cả căn phòng im phăng phắc. Khương lão thái nhìn Nhị Miêu, ánh mắt sắc lẹm: "Ngươi gan to lắm, giấu giếm giỏi thật đấy, còn chuyện gì nữa thì nói hết ra mau."

Khương Nhị Miêu không dám nhìn nãi nãi, lòng càng lúc càng trĩu nặng, hắn nói một hơi: "Hôm... hôm qua cũng không phải là đi tìm bà đồng ở thôn nhà ngoại đại tẩu đâu ạ. Chúng con đưa Đậu Đậu vào trấn gặp đại phu, đến tiệm Bình An Đường. Vừa vào đến nơi, Lâm đại phu nhìn qua đã bảo Đậu Đậu bị sốt, rồi lại nôn mửa, co giật nữa, ca tẩu cả sợ đến chết khiếp..."

"Lâm đại phu bảo thuốc của tam thúc là của người lớn, bên trong có vị thuốc trẻ con uống vào sẽ hại người. Vốn dĩ là bệnh nhỏ, giờ uống thuốc đó làm phổi Đậu Đậu hỏng rồi. Nếu không bồi bổ cẩn thận bằng nhân sâm, sau này nó sẽ ho mãi không dứt, không... không sống thọ được đâu..."

Khương đại tẩu khóc nức nở, suýt nữa thì quỳ xuống.

Cả căn phòng lại ồn ào lên. Nhà tam thúc bảo sâm chắc là đắt lắm, nhà tứ thúc hỏi hết bao nhiêu tiền, nhà ngũ thúc thì bảo nhỡ đâu lang trung thấy các người trẻ tuổi nên lừa gạt đấy, Đậu Đậu chẳng làm sao cả, việc gì phải dùng sâm, toàn là lừa người thôi. Sâm bao nhiêu tiền thì họ không biết, nhưng đã từng nghe danh nhân sâm rồi. Thợ săn sống trên núi trong thôn, có năm đào được củ sâm già, nghe đâu bán được mười mấy lạng bạc cơ. Chuyện này đồn khắp thôn, ai mà chẳng thèm muốn, ai mà chẳng nhớ kỹ. Nay cả nhà họ Khương nghe nói phải dùng sâm, ai nấy đều nảy ra ý nghĩ đầu tiên: Sắp phải tốn một khoản tiền lớn rồi.

"Hết bao nhiêu tiền." Khương lão thái hỏi.

Khương Nhị Miêu: "Bốn... bốn lạng."

Khương lão thái nhất thời im lặng. Khương lão đầu không biết từ lúc nào đã rút điếu thuốc sợi ra cuốn. Thuốc này là do ông ta rảnh rỗi tự vê, mùi vị rất hắc, bình thường ông ta không hút, chỉ khi nào làm đồng quá mệt mỏi mới làm vài hơi cho đỡ mệt.

Cả phòng lại nhao nhao: "Tận bốn lạng cơ á!", "Thứ gì mà những bốn lạng bạc!", "Con cái nhà lão đại còn nhỏ, chắc chắn bị lang trung trên trấn lừa rồi.", "Tam thúc ngươi hồi đó uống thuốc hết có bao nhiêu tiền, sao đến lượt các người lại tận bốn lạng bạc?"

Tiếng ồn ào náo loạn khiến lòng Khương đại tẩu chùng xuống. Mạng sống của Đậu Đậu nhà nàng ta mà, nếu Đậu Đậu không còn, nàng ta cũng chẳng thiết sống nữa... Nhà đại phòng cứ khép nép đứng đó chịu sự chỉ trích của mọi người. Là nhà họ làm tốn bạc, nhưng không thể nhìn đứa trẻ mất mạng được. Khương phụ đỏ hoe mắt, nắm chặt tay: "Cha nương, cầu xin hai người cứu lấy Đậu Đậu, nó còn nhỏ quá..."

"Sâm bốn lạng đến cha nương còn chưa được nếm qua, đứa trẻ nhà ai mà ăn thứ đắt đỏ thế."

"Người ta là cháu nội nhà lão đại, mạng quý giá mà." Những âm thanh hỗn loạn vang lên. Khương Nhị Miêu mắt lệ nhòa, hắn căm giận ghi tạc tất cả vào lòng.

"Cái lũ mồm thối kia, đứa nào rủa ta và cha các người đấy? Hai lão già này không bệnh không tật thì ăn thứ đó làm gì. Đều là bậc bề trên của Đậu Đậu cả, đứa nhỏ đang bệnh, sao lại ăn nói như phun phân vào mặt nhau thế hả." Khương lão thái bắt đầu mắng chửi, bà ta mắng một lượt ba nhà kia, rồi quay sang mắng cả nhà lão đại, chẳng sót một ai.

Bà ta mắng nhà lão đại không biết trông con, mắng Khương Nhị Miêu gan to dám giấu tiền riêng, mắng vợ chồng Khương Đại Tráng là quân đòi nợ, tóm lại là mắng hết sạch, duy chỉ có đám trẻ nhỏ là bà ta không đụng đến. Khương lão thái vốn là người như vậy, ở nhà họ Khương, bà ta gặp ai cũng mắng. Có đôi khi đến cả Khương lão đầu cũng phải hứng vài câu. Nếu ngày nào đó đám con dâu con trai không nghe thấy tiếng mắng của mẹ chồng, họ còn lén lút bàn tán không biết nương có làm sao không, sao hôm nay lại không mắng người.

Mắng xong xuôi, căn phòng cũng im lặng hẳn, ai nấy đều trở thành lũ chim cút, không ai dám hó hé nữa.

"Ông nó xem thế nào." Khương lão thái hỏi chồng. Việc bếp núc trong nhà bà ta quản, nhưng chuyện lớn thì vẫn phải để đàn ông quyết định.

Vợ chồng chung sống bao năm, thực ra chẳng cần nói nhiều cũng hiểu ý nhau. Khương lão đầu nói: "Bà hôm nay đi một chuyến, vào trấn hỏi cho rõ ràng xem sao."

Khương lão thái gật đầu, bà ta cũng có ý đó. Mấy đứa con nhà lão đại thì biết cái gì, nhỡ bị lừa thì sao, bà ta phải tận mắt chứng kiến mới được. Hơn nữa, bệnh của Đậu Đậu cũng không thể trì hoãn thêm nữa.

"Để Đại Tráng đi cùng để bế Đậu Đậu."

Khương lão thái "ừm" một tiếng, liếc nhìn xung quanh, mặt mày không mấy vui vẻ nói: "Nhị Miêu cũng đi theo."

Khương đại tẩu cũng muốn đi, nhưng bị Khương lão thái lườm cho một cái, bà ta thiếu kiên nhẫn bảo đi lắm người thế làm gì, việc nhà bao nhiêu thứ kia kìa, lo mà làm cho tốt. Khương đại tẩu không dám hé răng nữa. Ở cái nhà này, bất kể thế nào thì Khương lão thái vẫn là người nắm quyền sinh quyền sát.

"Xong rồi, giải tán hết đi, ai việc nấy mà làm. Ra ngoài cái mồm bớt liến thoắng đi, để ta mà nghe thấy điều gì thì cứ liệu cái thần hồn. Ta thấy là dạo này không thắt chặt kỷ cương nên đứa nào đứa nấy cũng định vểnh đuôi lên hết cả rồi..." Khương lão thái vừa mắng vừa đi vào phòng lấy tiền.

Thật đúng là một lũ quân đòi nợ.

Đám người trong phòng tản ra, không dám nói thẳng nhưng mấy chị em dâu cứ liếc mắt ra hiệu, ai nấy đều mang tâm tư riêng. Duy chỉ có Khương Nhị Miêu là mặt đầy vẻ không tin nổi, hắn... hắn thật sự chưa từng nghĩ tới nãi nãi sẽ đồng ý chữa bệnh cho Đậu Đậu, còn cho nó ăn cả nhân sâm.

Hắn cứ ngỡ sẽ phải chịu nhiều trắc trở cơ.

Người trong thôn đều bảo nhà hắn hiền lành nên chịu thiệt, bảo trẻ con trong nhà đông, thiếu một đứa cũng chẳng sao, lại bảo nãi nãi thiên vị. Quả thực nãi nãi trước đây có thiên vị thật...

"Nhị Miêu, đệ trông Đậu Đậu nhé, tẩu không đi đâu." Khương đại tẩu giao Đậu Đậu cho Nhị Miêu. Đậu Đậu gọi "nương", Khương đại tẩu đỏ hoe mắt, không nỡ bảo tối nương về ngay, đừng sợ.

Khương Nhị Miêu lên tiếng đáp lời.

Hồi lâu sau nãi nãi mới bước ra, hầm hừ lườm hắn và anh cả một cái. Hai người cứ như hai quả mướp đắng, chẳng dám ho he. Khương lão thái nhìn mà phát bực, bảo: "Bế Đậu Đậu đi thôi, sao nào, còn đợi ta phải mời nữa à?"

Hai người vội vàng đi theo.

Ra khỏi cửa nhà họ Khương, Khương lão thái không đi về hướng trấn mà lại đi vào trong thôn. Khương Đại Tráng không dám lên tiếng, Khương Nhị Miêu nhỏ giọng nhắc: "Nãi nãi, trấn ở hướng kia mà."

Lập tức bị Khương lão thái lườm cho một cái.

"Sao, chỉ mình ngươi biết, còn ta thì không biết chắc?"

Khương Nhị Miêu không dám nói thêm gì nữa.

Khương lão thái đến nhà thôn trưởng, cũng không vào trong mà chỉ đứng nói chuyện với vợ thôn trưởng, muốn mượn con trâu nhà họ. Bà bảo Đậu Đậu bệnh phải vào trấn, còn đưa năm văn tiền. Vợ thôn trưởng đẩy ra không nhận, bảo đều là người trong thôn, đứa nhỏ bệnh đi xem bệnh dùng trâu một chút lấy tiền nong gì.

Khương Nhị Miêu liền thấy nãi nãi hắn nhất quyết ấn tiền vào tay vợ thôn trưởng. Vợ thôn trưởng miệng thì bảo "thế này sao tiện, không lấy đâu không lấy đâu", nhưng vừa nói vừa quay người vào nhà gọi người dắt trâu ra.

"Đại Tráng biết dắt trâu, nếu thím tin tưởng được thì..."

"Tin chứ, có gì mà không tin, đều là người trong thôn cả, Đại Tráng chẳng lẽ lại đem bán mất con trâu nhà ta sao? Mà dù có bán thật thì chẳng phải còn có thím ở đây để bắt đền đó sao."

Lát sau, xe trâu đã thắng xong đi ra.

Khương lão thái nói trước mặt vợ thôn trưởng: "Đại Tráng, con đừng có ngồi lên, để Đậu Đậu nằm đó thôi, đừng làm mệt con trâu."

"Ấy kìa thím, thím nói gì thế, trâu già chứ có phải vàng ngọc đâu mà sợ người ngồi." Vợ thôn trưởng miệng nói vậy nhưng nụ cười trên mặt lại lộ vẻ vui mừng và nhẹ nhõm. Đừng làm mệt con trâu nhà bà ta là tốt nhất.

Không hàn huyên thêm nữa, Khương Đại Tráng dắt dây thừng đi phía trước, trên xe là Khương lão thái bế Đậu Đậu, Khương Nhị Miêu cũng không ngồi mà đi bộ bên cạnh. Đợi ra khỏi thôn, Khương lão thái mới bảo Nhị Miêu lên xe. Khương Nhị Miêu ban đầu không ngồi, Khương lão thái liền mắng: "Không phải ngươi bị trẹo chân sao? Ta thấy chân cẳng ngươi nhanh nhẹn quá nhỉ, chạy nhảy mấy ngày nay rồi, nhỡ đâu đứa nhỏ này chữa khỏi mà ngươi lại thành què thì đúng là chuyện nọ chưa xong chuyện kia đã tới..."

Khương Nhị Miêu ngoan ngoãn ngồi lên, lấy ống tay áo lau nước mắt.

"Khóc cái gì mà khóc, suốt ngày không để người ta yên thân."

"Nãi nãi, con cứ ngỡ người không muốn chữa cho Đậu Đậu, lúc đầu con đã hiểu lầm người, cứ nghĩ người thiên vị..." Khương Nhị Miêu đỏ hoe mắt, lí nhí nói.

Khương Đại Tráng đi phía trước thực ra cũng đã khóc, hắn ta cũng không ngờ nãi nãi lại bằng lòng chữa bệnh cho Đậu Đậu. Trước đây xin có năm mươi văn mà khó khăn đủ đường.

Khương lão thái kéo dài mặt ra, bà ta quả thực không thích nhà lão đại, miệng nói huỵch toẹt: "Ta với ông nội ngươi có thiên vị thật, nhưng tất cả đều từ bụng ta chui ra, hơn nữa đây là chuyện mạng người. Nhà mình thắt lưng buộc bụng bao năm nay, chẳng lẽ lại giữ tiền để nhìn đứa nhỏ mất đi sao?"

"Toàn nói lời thối tha."

Đậu Đậu trong lòng bị làm cho giật mình tỉnh giấc, Khương lão thái dùng bàn tay thô ráp đầy nếp nhăn xoa mặt đứa bé, dỗ dành: "Không sao không sao, bà cố không có mắng Đậu Đậu đâu, ngoan nhé bé con."

Khương lão thái chậm rãi vỗ về đứa nhỏ trong lòng, nhìn nó bé xíu xiu, bà ta lại nhớ về chuyện xưa: "Hồi trước gặp nạn đói, ruộng vườn khô hạn không trồng được lương thực, người ta chẳng có gì ăn, phải ăn rễ cỏ vỏ cây, thật sự là sợ lắm rồi. Cô hai, lục thúc của các ngươi số khổ, ta thì không có lấy một giọt sữa. Lục thúc lúc đó còn bé hơn cả Đậu Đậu bây giờ, cô hai ngươi là đứa hiểu chuyện và ngoan nhất, cứ gọi nương ơi con không đói đâu để dành cho em ăn..."

Nói đoạn, bà lão rơm rớm nước mắt, dùng bàn tay khô héo quẹt đi giọt lệ.

Vì sao bà ta lại bủn xỉn, vì sao bà ta lại tiết kiệm, chính là vì cái thời đó đã làm bà ta sợ đến tận xương tủy rồi.

Khương Nhị Miêu ngồi trên xe lắng nghe, hắn biết trước đây từng có nạn hạn hán, ba thôn gộp lại thành một thôn, chỉ là chưa từng nghe nãi nãi kể đoạn này. Cô hai và lục thúc mất lúc đó là vì chết đói. Thảo nào mỗi lần cô út về nhà mẹ đẻ, nãi nãi luôn cho mang theo chút đồ ăn, cũng chẳng phải thứ gì đắt giá, chỉ là đồ dưới ruộng, đồ khô trên núi, nhưng tóm lại là bà rất thương xót.

Xe trâu đi vừa vững vừa nhanh, đến trấn khi trời còn sớm.

Khương Nhị Miêu thuộc đường, chỉ lối đến Bình An Đường. Khương lão thái đến cửa thì biết ngay là mình đã từng tới đây. Bà ta không biết chữ nhưng nhận ra Lâm đại phu, Lâm đại phu ngày xưa vẫn còn là một chàng trai trẻ. Thế thì đúng là không lừa người rồi.

Lâm đại phu cũng không ngờ gia đình này hôm nay lại quay lại, còn đi cùng một bà lão. Hôm qua nhìn sắc mặt đôi phu thê trẻ, ông cứ ngỡ cảnh đời gian nan nên mới kê đơn thuốc thường, kéo dài được ngày nào hay ngày nấy, không ngờ...

"Lấy cho ta cái loại sâm đó, loại bốn lạng ấy, lấy một củ." Khương lão thái nói xong, từ trong ngực áo lấy ra một bọc vải, "Đại phu, sâm này dùng thế nào? Ngài xem lại cho đứa nhỏ một chút nữa đi."

Lâm đại phu mỉm cười, không phải vì bán được sâm, mà là vì đứa nhỏ đã được cứu rồi.

"Không vội, để ta xem lại, vẫn còn sốt nhẹ..."

Tề lão gia mỗi ngày đều đi xem qua hai tiệm thuốc, nhưng thường nán lại Bình An Đường lâu hơn, ngồi ở hậu viện uống trà tìm chút thanh tịnh. Hôm nay cũng vậy. Tiểu đồ đệ của lão Lâm mang đơn thuốc ra phía sau hỏi chưởng quầy lấy sâm. Những loại dược liệu quý giá đều không bày ở sảnh ngoài.

"Chờ chút, ta đi lấy, có cần bào chế không? Để ta xem còn thiếu gì."

Tiểu đồ đệ nói: "Dạ có, sư phụ bảo lát nữa người tự tay làm." Hắn cũng không dám đụng tay vào, chỉ sợ làm hỏng dược tính.

Ở trấn này, những nhà dùng đến nhân sâm thường có định mức sẵn, đa số là các nhà quyền quý, dân thường cả năm cũng chẳng bán được một củ. Số lượng sâm đều được ghi chép rõ ràng. Tề lão gia nghe thấy vậy, chợt nhớ đến gia đình mang đứa nhỏ đến khám hôm qua, liền hỏi có phải là họ không. Tiểu đồ đệ cúi đầu chào lão gia rồi mới nói: "Dạ phải, sư phụ con cũng ngạc nhiên lắm, bảo không ngờ họ lại quay lại."

"Ừ." Tề lão gia gật đầu, không nói gì thêm. Tiểu đồ đệ bưng tráp sâm, nâng niu mà đi.

Phía trước, Lâm đại phu bắt đầu bào chế thuốc, còn lại thì để tiểu đồ đệ bốc thuốc gói lại, dặn dò cách dùng, cách sắc kỹ lưỡng. Khương lão thái tuổi đã cao, trí nhớ kém nên sợ bị nhầm lẫn, nào là ba bát nước sắc còn một bát, bà sợ thứ đắt giá thế này nhỡ đâu phí phạm đã đành, nếu lại giống như thuốc của tam thúc, bệnh không khỏi mà còn nặng thêm thì hỏng bét.

Được mấy đồng bạc mà dám tiêu xài phí phạm như vậy?

"Phiền ngài nói lại một lần nữa được không?"

Lâm đại phu không nề hà nói lại, còn viết ra giấy. Nhưng cả nhà họ Khương chẳng ai biết chữ, Khương Nhị Miêu phải cố mà học thuộc, cuối cùng lặp lại một lần nữa. Lâm đại phu gật đầu bảo đúng rồi, đứa bé giờ đã hạ sốt, không có gì đáng ngại, về nhà sắc thuốc cho uống, trà sâm không được ngắt quãng, lượng dùng không được quá nhiều, cứ từ từ mà bồi bổ.

"Không uổng công đưa nó đến đây." Khương lão thái nói với Nhị Miêu, bà chỉ biết giờ Đậu Đậu đã không còn việc gì lớn nữa rồi.

Khương Nhị Miêu lại thầm nhẩm đi nhẩm lại trong đầu thêm mấy lần, Khương Đại Tráng cũng lặp lại theo. Thuốc đã lấy xong, tiền cũng đã nộp, mọi thứ đều ghi nhớ kỹ, Khương Đại Tráng bế con, theo lý thì nên về rồi vì trời cũng không còn sớm.

"Không vội, ra phố mua ít bánh trái đã. Nhị Miêu, lúc trước ngươi nói người mua mầm cây của ngươi họ gì, ở đâu? Phải cảm ơn người ta một tiếng, nếu không có người ta thì Đậu Đậu đã bị lỡ mất rồi."

Khương lão thái tuy bủn xỉn, ở trong thôn cũng chẳng phải hạng vừa, tính tình nóng nảy hay mắng người, nhưng có một điểm là bà ta không bao giờ nợ ân tình ai. Như sáng nay mượn xe trâu, kiểu gì bà ta cũng phải trả tiền. Về mặt tình nghĩa, Khương lão thái sống hơn nửa đời người, chuyện gì cũng trả sớm cho xong để khỏi phải bận lòng, kẻo nhỡ đâu lúc nào đó lại quên mất. Hoặc để lâu, người trong nhà mỗi người một ý, muốn tiết kiệm tiền thì dần dần sẽ không coi đó là ân tình, không coi đó là chuyện lớn nữa.

Nhưng ngươi phải ghi nhớ lấy.

Khương lão thái dạy bảo hai đứa cháu: "... Đánh xe trâu về nhanh lắm, không mất bao nhiêu thời gian đâu. Tạ ơn người ta một tiếng, sau này Đậu Đậu khỏi rồi, trong nhà có nông sản gì thì lại đem biếu thêm một ít."

"Nãi nãi, con biết rồi, con đều ghi nhớ trong lòng. Người đó họ Sầm, Sầm phu lang, nhà ở phía Tây Bắc, cách đây không xa, có một cái tiểu viện phải đi vào từ ngõ hẹp..." Khương Nhị Miêu nói nhanh, lời nãi nãi nói đều là chí lý.

Cả nhà vừa nói vừa bước ra ngoài. Lâm đại phu nghe thấy sao mà giống nhà họ Tề thế, liền gọi họ lại hỏi: "Tiểu ca nhi, chỗ ngươi nói có phải là nhà họ Tề treo đèn lồng ở mặt phố lớn không?"

Khương Nhị Miêu gãi đầu không nhớ rõ lắm, nói: "Hình như là vậy, trước đây con đi từ phía Nam qua, không đi đường lớn, chỉ nhớ cái tiểu viện thôi. Nhưng tướng công của Sầm phu lang hình như họ Tề, là một vị thiếu gia."

"Vậy thì đúng rồi, các người đi đi." Lâm đại phu chỉ đường, cuối cùng còn bồi thêm một câu: "Đó là nhà của đông gia tiệm thuốc chúng ta đấy."

Ây chà, thật là trùng hợp quá. Khương lão thái mở miệng nói ngay: "Đúng là cả nhà đều có lòng hảo tâm, hèn chi tiệm thuốc của đông gia các người lại mở được lâu đến thế, thật tốt bụng quá."

Cả nhà cảm ơn rồi đánh xe trâu đi. Lâm đại phu cũng cảm thán sự trùng hợp, vừa quay đầu lại đã thấy Tề lão gia ở đó. Lão đã nghe thấy hết cả rồi, nên Lâm đại phu cũng không khỏi nói: "Tam tề quân lòng vẫn tốt, vô tình mà cứu được một đứa trẻ."

"Phải rồi, ông hôm qua nói nó còn trẻ, là tuổi trẻ khí thịnh một chút, lòng tốt là được rồi..." Tề lão gia gật đầu nói.

Thời Tề lão thái gia còn sống, cụ vốn hay làm việc thiện, kết thiện duyên, như tài trợ cho Hứa tú tài đèn sách thi cử. Tuy nói Tề lão thái gia cũng có lòng công lợi, nhưng việc thiện là thật sự đã làm, còn mời cả Lâm đại phu về ngồi chẩn bệnh. Lúc đó Lâm đại phu còn trẻ, chưa có kinh nghiệm nên cũng sợ, Tề lão thái gia liền bảo, tiệm thuốc này vốn chỉ là bán thuốc, nhưng người nghèo không có tiền chữa bệnh, đôi khi đau đầu nhức óc không nói rõ được, ông cứ xem giúp họ xem bốc thuốc thế nào, trị ra sao, lúc đó là không thu tiền chẩn bệnh của người đến mua thuốc...

Vì thế dân trong trấn và các thôn lân cận đều đổ xô đến Bình An Đường. Giờ nghĩ lại, tiệm thuốc nhà họ Tề từ một gian thành hai gian, quan hệ tốt đều là nhờ những nhân mạch mà lão thái gia kết giao để lại. Tề lão gia không bằng cha mình, nên sợ gia nghiệp đổ vỡ trong tay mình, sợ không có người kế thừa quản lý gia nghiệp...

Đọc phần tiếp theo← Phần trước

Hãy là người đầu tiên bình luận 💬

Bạn cũng sẽ thích